Tôi kể bạn nghe, ông tôi là người thế nào

***

Ông tôi là một người rất dữ. Nếu lười miêu tả thì có thể nói vỏn vọn như vậy: dữ. Ông là người cổ hủ, bảo thủ và vô cùng cố chấp. Ông là kiểu người gia trưởng điển hình, một người sẵn sàng đạp đổ ý kiến của người khác nếu nó có chín phần đúng và một phần trái với ý ông. Ông còn là người có thể thực sự “đạp đổ” mọi thứ, theo đúng cái nghĩa đen của nó.

Ông tôi rất bảo thủ. Tuy ông còn có một người anh, nhưng tính cách của ông thì hệt như những người con trưởng trong gia đình. Ông có những quy tắc riêng, những quy tắc bất thành văn nhưng ai trong gia đình cũng hiểu, để rồi khi có người làm trái ý ông, ông sẽ thẳng thừng mà nói rằng: “Đây là nhà ông, ông có quyền …” và cái quyền của ông thì có nhiều lắm. Có những điều dù ông thấy là đúng, nhưng lúc đó ông sẽ không công nhận là đúng vì sự chấp nhận của ông chỉ luôn xuất hiện vài ngày sau đó mà thôi. Còn lúc xảy ra chuyện, ông vẫn là đúng.

Ông tôi rất nóng tính. Ông sinh năm rồng, vậy chắc là rồng lửa chứ không phải con rồng dưới thủy cung. Ông tôi mà cáu lên, thì sẽ mắng vang cả nhà, khiến người đang đứng trước cửa nhà chuẩn bị vào cũng phải chần chừ đi đi lại lại không dám bước chân vào. Ông tôi mà cáu lên, thì cơm cũng chẳng ăn, dù ngon đến mấy cũng không đụng đến, chỉ đụng đến bàn ghế hoặc những thứ nhỏ nhặt trong tầm với. Có lần ông đã đụng đến sách vở của tôi, và chúng bay xa đến cuối tường, yên lặng chấp nhận những vết nhăn, vết sẹo trên bề mặt. Sau khi bình tĩnh lại, ông sẽ luôn có cách giải quyết là ngồi xuống và làm lành, hệt như dỗ dành những đứa trẻ bé hin, chỉ khác là không có kẹo mút hay gói chíp chíp. Và trong tương lai nếu có chuyện tương tự, ông sẽ lại làm thế, theo đúng trình tự thì thôi.

Ông tôi rất nghiêm khắc và vô cùng cảnh giác. Ông nghiêm khắc với chính mình và đương nhiên là nghiêm khắc với cả những người xung quanh. Khi tôi còn học cấp một cấp hai, trường gần nhà nên ông biết tôi sẽ về lúc nào, chỉ cần chậm vài ba phút, khi đã cân nhắc khả năng tắc đường hay tan muộn, thì tôi sẽ được ông đợi trước cửa nhà. Sau này lên cấp ba, nhà xa trường hơn, tôi lại như kẻ bán hàng ăn bớt ăn xén được vài đồng niềm tin, nhưng vẫn không dám về muộn giờ cho phép. Nhớ hồi nhỏ, khi nhà tôi còn bán cà phê – lúc đó là quán ngon nhất phố, thì ông tôi không cho mở cửa quá muộn, cũng như không cho phép có những khách vãng lai trông … không tin cậy ngồi trong quán. Còn làm thế nào để họ không còn ở trong quán, thì mỗi lần ông có một cách khác. Ông dần trở thành “bảo vệ không lương” của từng thành viên trong gia đình. Tôi còn nhớ những ngày đầu tiên đi xe đạp lên trường cấp ba, ông bắt tôi khi đến trường phải gọi điện về, đề phòng bất trắc, nếu không, chiếc điện thoại cục gạch của tôi sẽ rung đến khi nào nhấc máy thì thôi. Còn ngôi nhà tôi đang ở luôn được ông xây dựng rất kiên cố, vì như ông muốn, là “trộm cũng phải khóc thét vì không vào được nhà!”.

Ông tôi sinh năm 40, và bây giờ đã quá hai phần cuộc đời. Tôi từng tự hỏi khoảnh khắc đón giao thừa của năm thế kỉ, cảm giác sẽ như thế nào. Và chắc khi mới 60, ông còn khỏe khoắn, ông còn vui vẻ đón cái tết rộn rã của mọi nhà, của cả thế giới trong cái không khí bước sang một thế kỉ mới. Còn bây giờ, chỉ mười mấy năm sau, cái tết đối với ông cũng chỉ là một cái năm rất thường. Đối với người đã đón hơn bảy mươi cái tết, thêm một cái nữa cũng không còn gì bất ngờ. Nhưng ông vẫn luôn hào hứng như lớp trẻ chúng tôi, vẫn thích thú với đồng bánh trưng, với chén dưa hành, với việc đi chợ hoa mua cây đào đẹp nhất và mừng tuổi tôi với những bao lì xì màu đỏ. Ông là người nhiệt tình nhất trong những ngày cuối năm để hối thúc mọi người chào đón một cái Tết. Ông vẫn đón cái Tết với bao tâm trạng mới nhất, như thể bảy lăm năm mới chỉ là một.

Không còn là người nhân viên kĩ thuật của Thông tấn xã Việt Nam, cũng không còn là người mới nghỉ hưu đủ sức đi xe khách lên thăm nhà máy Thủy điện Hòa Bình, hay đi máy bay hai mươi tiếng sang nước ngoài thăm con gái, ông bây giờ gầy đi nhiều và ốm đi rất nhiều. Đến cả những người trong gia đình, khi có thời gian lặng người nghĩ lại, cũng không thể tưởng tượng ra người đàn ông trên bức ảnh treo tường lại là ông. Thi thoảng lén nhìn ông, tôi tự hỏi những năm qua mình đã ở đâu, những sung sức của một thời trung niên đã phai mòn nơi đâu rồi.

Ông tôi giờ hiền như một ông bụt. Trước đây, ngoài lúc ông tức lên thì ông cũng là người rất hiền hậu, nhưng bây giờ, ông luôn hiền lành trong mọi hoàn cảnh. Ông cười hiền từ, ấm áp. Ông nói chuyện từ tốn, nhỏ nhẹ. Ông đi lại chậm rãi, điềm đạm. Ông ít cáu hơn, khi cáu chỉ ngồi một chỗ và cằn nhằn khó chịu, nhưng ông không động chân động tay nữa, cáu xong là thôi.

Ông tôi giờ tính rất ôn hòa. Ông lấy việc chào tôi mỗi sớm tôi đi học làm niềm vui. Ông lấy việc đi chợ xách đồ cho bà là môn thể dục. Ông lấy việc chăm chút cho nhà cửa có ích hơn ngồi ghế xem tivi. Ông không còn mắng mỏ, cũng không đập đồ. Ông chỉ gần gũi tiến đến ngồi xuống và ôn tồn tâm sự. Ông cắt ngắn giai đoạn, nên quá trình của ông giờ chỉ còn một.

Ông tôi giờ đã biết lắng nghe. Tuy sau cùng trước khi chốt câu “quyền quyết định nằm ở bà hay con hay cháu …” ông vẫn sẽ nói một tràng dài những lời ông nghĩ, nhưng không áp đặt suy nghĩ của mình nữa. Ông nhiều cái không hiểu, nhưng nếu không hiểu được mà ông biết là không xấu thì ông cũng sẽ không cần hiểu. Ông chỉ muốn biết lựa chọn cuối cùng của mọi người có đúng hay không.

Ông tôi giờ mềm mỏng hơn. Ông đã quen với việc tôi về muộn quá giờ cho phép trước đây, hoặc những tuần không bữa cơm nào tôi ở nhà. Mỗi lần về chào ông, ông cũng đều mỉm cười như thể tôi vẫn luôn ở nhà trong suốt thời gian đó. Ông không câu nệ chuyện tôi đi đâu, làm gì, ông chỉ thấy vui mỗi lần ông nhìn theo tôi phóng xe đi, và chào ông lúc về nhà.

Loading...

Tưởng chừng như vài năm sau, nhưng thực chất chỉ vài tháng sau, ông tôi lại không được như trước. Ông vùi mình trong phòng nhiều hơn, đi đi lại lại nhiều khi chỉ như cây gậy cần có người kéo. Ông ngủ ngày, thức khuya, những lúc như vậy, cả nhà lại thức cùng ông. Ông không xem tivi, thời sự ông cũng chẳng nghe nữa, ông đọc, đọc những toa thuốc dày đặc chữ in cỡ nhỏ, ông xem chúng trị gì, có lợi cho ông không, ông ngồi giữa những hàng thuốc, ông ngủ với thuốc men, thuốc tây và ta, đông y và tây y, chỉ cần hoặc là do bác sĩ kê đơn, hoặc là do người quen tin cậy, ông sẽ mua về uống thử. Ông không nhớ được ngày tháng, giờ giấc, bữa nào ăn rồi bữa nào chưa, ông thỉnh thoảng quên mình vừa ăn gì ngay trong bữa ăn, nhưng ông vẫn nhớ tôi, vẫn nhớ những người xung quanh. Ông không còn nói nhiều, những câu chuyện của ông không còn xoay quanh những vấn đề của cuộc sống năng động, nó là chuyện cơm, chuyện nước, chuyện chợ búa hay những người xung quanh, ông chỉ nói vài câu, sau đó lại im lặng như chìm vào thế giới mù mờ của chính mình.

Nhiều người từng nói sợ ông, thấy thương tôi vì tôi bị chèn ép quá hà khắc. Tôi nghĩ về những lần bị mắng, một lần duy nhất bị tét mông, quả thật cũng rất rùng mình. Nhưng khi tôi thực sự ngồi ngẫm lại, tôi chẳng sợ ông chút nào.

Tôi vẫn nhớ về điểm 5 đầu tiên, tôi ôm tờ bài kiểm tra về nhà mà thấp thỏm không yên. Tôi còn “bàn kế” với mẹ xem nên báo cáo thế nào. Tôi sợ ông mắng, sợ ông trách tôi không chăm học, bị điểm kém không bằng bạn bằng bè, nên điểm 5 đối với tôi như một án tử hình. Nhưng khi đó tôi chỉ ngồi xuống nhỏ nhẹ, thu người ngồi cạnh ông khi xem tivi, kể thật mọi chuyện, ông lại ân cần an ủi tôi, nói điểm 5 ấy không có gì phải xấu hổ cả. Và sau đó tôi luôn cố gắng đạt điểm trên 5.

Tôi vẫn nhớ về chú chó duy nhất tôi nuôi. Ông không thích chó, vì chúng bẩn, lại còn sủa đau đầu nhưng vì tôi thích, ông vẫn chịu đựng được 3 năm, và vì một lí do rất tự nhiên, chú chó của tôi rất sợ ông. Vào ngày nó biết mình sắp bị bán, vợ chồng chủ mới đã đến nhà xem, nó run rẩy nằm trong cái rổ bé tí chờ tôi về. Tôi biết người ta đang cò kè giá tiền mua nó, tôi bèn xin ông khẩn thiết khi cặp còn đeo trên lưng. Dù tôi chẳng nhớ mấy chuyện hồi lớp ba lớp bốn, nhưng tôi vẫn nhớ rõ cảnh hôm đó khi tôi đang ngồi bệt ôm con chó, đôi vợ chồng đứng trước mặt tôi, còn ông đứng bên cạnh mỉm cười và nói: “Xin lỗi cô chú, cháu nó thích vậy thì tôi cũng không bán nữa đâu.”

Tôi vẫn nhớ lần bị lạc trên bờ Hồ năm 5 tuổi khi mặc áo vàng, quần trắng, để đầu nấm. Ông bà đã chạy loạn đi tìm vì để lạc mất tôi, cuối cùng bằng một cách thần thánh nào đó tôi đã đi ra chỗ gửi xe máy và đứng chờ ở đó. Ông thấy tôi mừng đến cỡ nào, liền mua tôi liền mấy cái kem, nhưng tôi thì vẫn hoảng sợ chỉ có thể đứng nhìn cây kem trực chảy.

Tôi vẫn nhớ lần làm thành công mẻ bánh mì đầu tiên, khi nhìn những thớ bánh trắng mịn đang tỏa hương thơm ngào ngạt, tôi đã chạy ù lên bẻ nửa đưa ông, vì ông là người đầu tiên tôi nghĩ đến.

Rồi lần tôi trượt kì thi học sinh giỏi cấp hai, vừa về gặp ông đã khóc, ông vỗ đầu tôi bảo không sao. Hay lần tôi bị học sinh tiên tiến kì một năm lớp 10 dù vẫn trong top đầu, ông đi họp về biết tôi đang nằm khóc, thì lại nói rất nhẹ nhàng khiến tôi cảm giác cái danh hiệu cũng thật nhỏ bé. Rồi rất nhiều lần nữa …

Ông là nguồn cảm hứng của tôi. Đó là lần tôi vẽ bức vẽ nguệch ngoạc đầu tiên, viết dòng tâm sự lủng củng đầu tiên, lúng túng học điệu nhảy đầu tiên, tất cả đều ít nhiều liên quan đến ông cả. Tôi buồn thì vẽ, buồn thì viết, buồn thì nhảy, sau này thì với tất cả cảm xúc buồn vui yêu ghét tôi đều làm vậy, thành thói quen, thành bản chất. Tôi rèn được như ngày hôm nay, là nhờ ông.

Ông giờ đã già, đã yếu, những lần tai nạn và chữa trị đã cướp đi của ông tất cả, nhưng đối với tôi, giờ này ông vẫn còn nằm ngủ phòng bên đã là điều tốt đẹp nhất rồi. Người ngoài có thể nói ông nghiêm khắc, đáng sợ, nhưng ông thực sự rất hiền lành và đáng thương. Cái “đáng thương” gần giống với nỗi buồn của những người vua, những người anh hùng, vì họ ở trên cao cao tít không ai với tới được, nên họ luôn cô đơn, luôn một mình một sức. Họ gánh trách nhiệm của người khác trên vai, nên phải gắng sức mà lo toan mọi việc. Nhìn ông ngồi một mình, ngủ rất sớm, tôi vẫn luôn có cảm giác đó: buồn lặng và cô độc. Vì ông từng khiến mọi người sợ ông, nên giờ họ cũng giữ khoảng cách. Vì ông rất tình cảm nhưng lại không hay biểu lộ cảm xúc của mình, nên giờ ông vẫn chỉ có một mình. Có những nút thắt đã bị cột lại từ lâu đến mức khít lại không tháo ra được, đến tôi, dù cầm chiếc kéo trong tay, cũng không biết nên cắt từ đâu. Tôi muốn nhiều thứ và không làm được nhiều thứ. Tôi có thể nghĩ đến những viễn cảnh vài năm sau, rồi thì sợ hãi và tự thúc giục mình, nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch tồi tệ. Tôi nhát gan, tôi sợ, tôi vẫn muốn bảo vệ bản thân hơn là bảo vệ tâm hồn mỏng manh, yếu đuối, rất cần tình yêu thương của chính ông. Tôi nghĩ cứ làm sai nhưng mình biết mình sai là được, rồi tự khóc thầm đau lòng là được. Nhưng khi người khác không biết, thì lại một nút thắt nữa được tạo ra. Thắt chồng lên thắt, thì đến bao giờ mới sờ được đến nút thắt trong cùng mà cởi. Tôi vẫn nghĩ chỉ cần tâm vẫn tốt, vẫn nghĩ thật đúng đắn, thì vẫn được thanh thản. Nhưng hành động trái ngược với suy nghĩ lại là một cái tội khác, và cái tội này thì không yên lòng chút nào.

Tôi vẫn muốn ông đưa tôi đi trên đường thảm đỏ trong ngày cưới. Tôi không biết nó có thể xảy ra? Tôi vẫn muốn mời ông một bữa thật no bằng tháng lương đầu tiên kiếm được, nhưng giờ có tiền lương trong tay, lại không thể đưa ông đi xa khỏi ngôi nhà của mình. Tôi vẫn muốn làm nhiều thứ cùng ông, nhưng ông giờ chỉ có thể làm những việc còn hơn cả đơn giản. Nhiều lúc tôi tự hỏi, có khi nào trong trí não đã mệt nhoài của ông, vẫn còn ước muốn được cùng mọi người lên Bờ Hồ ăn mỳ vằn thắn, ngồi trên ghế đá quanh hồ thưởng gió mát rồi chờ bụng nguôi nguôi để ăn một chiếc kem ốc quế Tràng Tiền.

Rồi những lúc tôi tự hỏi điều như vậy, chợt thấy ánh mắt ông nhìn tôi cười … ngây ngô, tôi sẽ vô thức cất tiếng hỏi:

– Ông ơi ông đi ăn kem Tràng Tiền với cháu nha!

Phạm Mai Anh

anhpm…@gmail.com

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here