Đêm gác rừng

***

Chạy! Chạy đi. Bóng đêm bao trùm hết khu rừng phía Bắc. Giữa núi rừng, Lê chỉ nghe thấy tiếng vọng của những bước chân mệt mỏi và đau đớn của nàng. Trước mắt nàng là ánh sáng, là ngọn đèn của người gác rừng quen thuộc. Nàng chạy đến cận kề sự sống và không thể dừng lại…

Tôi đi theo lối mòn, con đường dẫn vào rừng mà người trong làng đã nói với tôi mấy phút trước đó. Cánh rừng biên giới rậm rạp và đầy hơi thở hoang dã. Tôi lấy quyển sổ tay ghi chép một số điều cần lưu ý trong cánh rừng này, đây sẽ là một ý tưởng tuyệt vời cho đề tài mà tôi sẽ viết tiếp theo. Tôi đã thấm mệt khi đi một quãng đường dài, có lẽ một chút nước sẽ làm cho tôi đỡ hơn. Tôi ngồi nghỉ chân trên mỏm đá. Những tán lá cây xanh rờn che phủ một vùng khiến nơi này trong lành và yên bình. Theo như lời người trong làng thì còn cách khoảng tầm 200 mét nữa tôi sẽ đến trạm của những “Người gác rừng”.

Nghĩ đến khoảng cách chẳng còn bao xa nữa làm cho lòng tôi thấy phấn khởi thêm chút ít. Tôi dốc hết chai nước rồi ôm quyển sổ tay của mình và tiếp tục đi. Lối mòn không còn nữa, dưới chân tôi phủ đầy lá cây khô. Những mầm non nhỏ xíu chi chít nhau chen lẫn giữa “một thành phố nấm” xinh đẹp. Tôi lấy chiếc máy ảnh còn mới tinh quỳ xuống chụp mấy tấm. Sau đó, tôi tiếp tục đi theo cảm tính. Tôi cho rằng khả năng phương hướng của tôi không là vấn đề, nhưng cái suy nghĩ đó liền sụp đổ trong khoảnh khắc trời ngã án chiều và khu rừng lan man màu của bóng tối.

Tôi khá là sợ, lòng cũng run run.Tôi sợ gặp rắn hay là thú dữ. Chẳng ai nói trước được điều gì, có khi đây là lần cuối cùng tôi được đi du ngoạn và quyển sách mà tôi đã lên ý tưởng cả một năm trời sẽ không thể xuất bản. Tôi cứ đi mãi, mấy chai nước mà tôi man theo dự trữ cũng đã hết sạch. Tôi đói và mệt đến lã người. Và rồi, tai họa ập xuống bởi vì sự tự tin và lớn gan của tôi. Tôi đã gặp phải bẫy thú. Đó là một chiếc bẫy cạp được làm bằng hai tấm thép và có một hàm răng lược đan vào nhau cùng hai chiếc lò xo cực mạnh nhầm giữ chặt những con thú dã mắc bẫy. Những chiếc răng lược cấm vào cổ chân của tôi, nó khiến tôi đau đớn và khó di chuyển được. Trời đã xẫm tối, tôi không rõ về chiếc bẫy này, nên không thể nào gỡ nó ra khỏi chân tôi được. Tôi e rằng nếu sơ xuất tôi sẽ mất đi cái chân này.

– Ai đấy? Là ai đấy?

Tôi nghe thấy tiếng người, vội vàng kêu cứu. Cái đèn pin cũ của người đàn ông trung tuổi đã không còn sáng hoắc như những cái đèn ở đô thị nữa. Ông rọi cái đèn pin vào mặt tôi, nó không quá chói chang. Khi nhận định tôi là một cô gái không có nguy hại gì đến ông thì ông ngoảnh ra đằng lưng gọi thêm mấy người nữa:

– Có người bị mắc bẫy thú rồi, các anh mau tới đây…

Mấy người đàn ông nữa cùng đến, trên tay họ đều là những chiếc đèn pin đã cũ. Họ nhìn tôi mấy hồi, rồi người đàn ông trung tuổi ngồi xuống gỡ bẫy thú cho tôi. Ông chú già với làn da đen đúa, cằn cõi ngậm cái đèn pin trên miệng. Mấy người kia soi đèn vào cổ chân tôi. Họ gỡ cái bẫy thú khá thành thạo và chuyên nghiệp. Nhưng chân tôi vẫn âm ỉ cơn đau bị cắt thịt. Điều đó khiến cho tâm trạng tôi tệ hơn.

– Cô có phải là cô nhà văn không? – Người đàn ông trung tuổi hỏi tôi.

– Vâng, đúng rồi. Tôi bị lạc đường, mãi không tìm được trạm gác.

– May mà cô không sao, đi về trạm gác thôi. Để thằng An nó cõng cô nhé.

Tôi cũng “Ừ” rồi được một anh chàng cõng trên lưng, anh chàng ấy có vẻ nhỏ tuổi hơn tôi. Tôi cũng không chắc nữa. Cơn đau làm tôi không thể nghĩ ngợi nhiều như thế. Mấy người đi trước dùng cây để xua đuổi rắn rết, côn trùng, đèn pin sáng rực một quãng đường. Họ soi vào những tán lá xanh, rừng thiên trong bóng tối làm cho con người ta sợ hãi.

Cái trạm gác mà họ nói thật ra chỉ là một căn chòi khá lớn được dựng cao hơn mặt đất khoảng tầm hơn hai mét. Nó giống như nhà sàn, nhưng không đồ sộ và đẹp được như kiểu nhà sàn của người vùng cao. Trong nhà, có hai người phụ nữ cũng đã trung tuổi đang ngồi canh bếp lửa. Khói bếp nghi ngút, một góc nhà bừng sáng thứ ánh sáng dịu dàng nhưng nồng đậm. Dĩ nhiên đó không phải là ánh đèn điện nơi đô thành.

Người đàn bà nhìn thấy tôi liền hét với vào trong căn chòi: “Về rồi, chị Liên ơi họ về rồi.”

An thả tôi xuống dưới đất, sau đó lần lượt họ đều leo lên trạm gác một cách dễ dàng. Tôi cũng leo lên được, có điều hơi khó khăn một chút. Chị Liên cùng chị Hòa chạy ra đỡ tôi. Hai người phụ nữ hồ hởi hỏi thăm tôi về quê hương, về những chuyện ở dưới đồng bằng.

– Ôi trời, chân em bị thương hả. Để chị lấy nước cho. Lúc nãy đã chuẩn bị nước tắm cho em rồi đây này.

– Phiền mọi người quá. – Tôi cười, đỡ lấy ly nước đầy từ chị Liên.

– Tên em là gì?

– Gọi em là Hạ được rồi.

– Chị hai thiên vị quá, anh em lên đây suốt mà có được chị nấu nước cho tắm đâu. – Một anh chàng vừa phân bua vừa cười. Mấy người khác cũng cười theo.

Tôi đi tắm, chủ yếu là làm sạch người thôi chứ thôi thừa biết ở cái nơi rừng thiên, nước độc này việc ăn uống, tiện nghi của họ vô cùng khó khăn.

– Người dưới thị trấn nói trưa nay em sẽ đến, sao mà lâu vậy?

– Em bị lạc đường, lại gặp phải bẫy thú. – Tôi nói, rồi nhận cuộn vải từ chị Hòa để băng cái chân đã bị thương. Dù là lần đầu gặp gỡ nhưng tôi chẳng hề cảm thấy họ xa lạ chút nào. Tôi thích trò chuyện với họ, điều mà tôi chẳng bao giờ chủ động khi sống ở thành phố.

– Chị là nhà văn hả, thế nhà văn có khó không chị? – An hỏi tôi như thế, hai gò má anh chàng ửng hồng.

– Nhà văn không khó.

– Thế tôi có làm được không cô nhà văn? – Một anh chàng nói giọng Huế đặc sệt cười trêu tôi.

Mọi người cười rôm rả, họ hỏi tôi về cuộc sống của những người thành phố. Tôi cho họ xem những bức ảnh về phố thị xa hoa với những ngọn đèn rực rỡ trong đêm tối. Xe cộ nối đuôi nhau nườm nượp. Họ mê say, cuốn hút vào trong những bức ảnh rực rỡ nhiệm màu kia. Có lẽ họ chưa từng một lần được đặt chân đến nơi hoa lệ như thế. Điều đó khiến cho tôi cảm thấy an bình. Thật ra sống ở nơi này cũng rất tốt, không phải vội vã cũng chẳng cần để tâm đến những gánh nặng phiền muộn của nơi thuộc về những người xa hoa dưới kia.

Tôi được biết Chị Liên, Chị Hòa và anh Chiến (người đã gỡ bẫy thú cho tôi) là người ở Cao Bằng. Họ đến vùng núi này là tự nguyện. Họ kể với tôi rằng, mấy người em trai của họ làm kiểm lâm ở nơi này. Mấy năm trước trong một đợt vô tình gặp bọn buôn lậu nên đã bỏ mạng nơi núi cao, rừng thẳm. Họ đến nơi này là để tiếp tục nhiệm vụ dang dỡ của người đã khuất với tư cách là những người tình nguyện.

Ban đầu chỉ có anh Chiến với chị Hòa, 2 vợ chồng theo nhau lên đây giữ rừng, giữ cõi. Nhưng rồi sau này có nhiều anh em kiểm lâm cũng thấy bớt hiu quạnh. – Anh Tần đốt điếu thuốc và nói với tôi.

– Vậy anh chị có sợ không?

– Sợ chứ, nhưng cũng nhiều năm rồi. Bây giờ bọn này cảm thấy vui lắm. Cứ sống như thế này cũng rất tốt. – Anh Chiến cười hào sảng.

– Vậy các anh điều là kiểm lâm hết hả? Các anh ở đây luôn hay sao? – Tôi nhìn 2 anh chàng khác, vừa ăn miếng cháo trắng vừa hỏi họ. Trên đùi tôi là quyển sổ ghi chép. Cả thảy những lời họ đã nói tôi đều ghi kỹ càng, một chữ cũng không sai.

– Ừ, là kiểm lâm. Nhưng chúng tôi có trạm riêng ở trong làng. Nơi mà cô nhà văn dừng chân nghỉ hôm qua ấy.

Tôi gật đầu, rồi lại ghi chép vào quyển sổ.

– Vậy còn cậu? – Tôi nhìn An, khuôn mặt của cậu trai trẻ liền ửng đỏ dưới ánh đèn dầu loe lói.

– Không, em chỉ thỉnh thoảng lên đây cùng các anh, các chị. Hơn nữa, em không phải người Kinh.

– Cậu nói tiếng Kinh rất tuyệt! – Tôi tròn mắt rồi thốt lên với cậu bạn trẻ.

– Là mẹ em dạy, mẹ em là người Kinh.

Tôi ồ một tiếng rõ ràng. Hóa ra là như thế, hèn gì tên của cậu nhóc cũng là tên của người Kinh.

Đã về khuya, tiết trời lạnh lẽo. Trạm được chia thành hai buồng. Một buồng dành cho bốn người đàn ông, buồng còn lại tôi và hai người phụ nữ ngủ. Có lẽ do quá mệt mõi nên tôi đã ngủ rất sâu.

Vào sáng hôm ấy, tôi không còn nghe được những tiếng động cơ khô khan giòn giã như mỗi sớm mai khi tôi còn ở thành phố. Trái lại, đó là tiếng gió va vào những tán lá xanh rờn, tiếng bếp lửa của người phụ nữ miền núi lách tách và có cả tiếng suối róc rách vọng từ nơi xa xa. Tôi thức dậy là lúc trời còn ửng hồng. Họ cũng đã dậy cả. Mấy anh chàng kiểm lâm lật đật chuẩn bị trang phục đi tuần. Tôi ngõ ý đi cùng nhưng bị họ từ chối vì vết thương ở chân của tôi vẫn chưa lành.

Tôi phụ chị Hòa nấu bếp, mấy chén cơm trắng với mấy con cá khô đạm bạc. Rồi các anh đi tuần, chị Hòa cũng lật đật đồ đạc mà đi.

– Chị đi đâu thế ạ?

– Tôi ra nương.

– Mọi người còn trồng nương rẫy trong rừng nữa hả?

– Ừ, phải tự lo cái ăn cho mình chứ.

Tôi cũng học theo chị, quảy cái gùi trên lưng lật đật theo chị ra rẫy.

– Thế chị Liên đâu rồi chị?- Từ lúc sáng, tôi đã không thấy mặt chị ấy đâu.

– Chị ấy đi xuống làng để đổi lấy ít gạo với thuốc. Chiều tối thì sẽ trở lại thôi.

Tôi hỏi chị rất nhiều chuyện trong khi tưới nước cho những luống rau. Người đàn bà trung tuổi, dáng người nhỏ nhắn với làn da cháy nắng cằn cõi gánh từng thùng nước từ con suối tưới lên những luống rau xanh. Tôi phụ chị, vì vết thương nên chỉ được phép tưới một vài luống.

– Sao mọi người không nuôi gia súc hay gia cầm để cải thiện bữa ăn.

Trước có nuôi mấy con gà, nhưng đôi ba ngày lại bị thú mò tới ăn. Mình không canh được, cũng không thể bắt chúng nó. Vậy nên thôi.

– Sao lại không bắt được chúng nó? – Tôi thắc mắc.

Rừng này là của chúng nó, mình ở đây để bảo vệ nhà nó chả nhẽ mình lại làm hại nó sao cô nhà văn?- Chị cười, để cái thùng nước dưới chân rồi nói chuyện với tôi. Chị làm tôi xúc đông quá.

– Nếu ở đồng bằng, mọi người sẽ có cuộc sống tốt hơn. – Tôi đưa bình nước cho chị, rầu rĩ nói.

Loading...

– Ừ, trước tôi cũng nghĩ vậy nhưng ông chồng tôi nói phải ở đây đợi ngày bắt được tụi khốn buôn lậu thì ông ấy mới yên lòng.

Tôi nghĩ, họ không tự làm khó mình. Chỉ là họ có lý tưởng, cái lý tưởng của họ cũng tương tự như sự cố chấp nghiêm ngặt của tôi. Tôi từng nhớ cách đây mấy ngày, anh tôi đã phản đối quyết liệt chuyện tôi lên rừng biên giới phía Bắc để tìm tư liệu viết sách tuyên truyền. Bởi vì anh cho đó là nguy hiểm. Nhưng nếu tôi không đi khi cái ý nghĩ mà họ cho là điên rồ ấy đã xuất hiện trong đầu tôi thì tôi sẽ không thể sống yên ổn được. Tôi sẽ phát điên lên mất.

Trời đứng bóng, tôi cùng chị trở về. Mấy anh chàng kiểm lâm cũng đã về hết cả. Chỉ còn An ở lại. Cậu nhóc phụ chị nhặt rau, nấu cơm. Tôi trở thành người nhãn rỗi, vì thế tôi bèn bắt chuyện với anh Chiến – Người gác rừng đã có thâm niên.

Tôi hỏi họ có được hỗ trợ về ăn uống hay vật chất hay không. Họ nói với tôi rằng những người anh em kiểm lâm đã trích tiền để giúp cho cuộc sống của anh chị. Người trong làng cũng rất tốt bụng. Thi thoảng họ cử nhau lên trạm gác để đưa cho anh chị cái này, cái kia. Tôi hỏi họ vì sao không xuống trạm dưới làng ở cùng anh em. Anh Chiến trả lời một câu khiến lòng tôi nôn nao: “Nếu tôi ở dưới thì sẽ không chờ được lũ ác ôn đó.”

Tôi thở dài mấy lượt, nơi rừng núi này có vô số cái bẫy, vô số những nguy hiểm của rừng thiên. Còn có những câu chuyện phức tạp của con người.

Tôi ghi thêm mấy chi tiết và xin anh được chụp ảnh cái “Trạm gác”. Anh vui vẻ đồng ý.

Buổi tối, anh cùng An đi gác rừng, cậu trai trẻ mang dòng máu của nửa người Kinh và nửa người Mông dũng cảm này cũng là một người tình nguyện gác rừng. Họ cầm theo cái đèn pin cũ cùng cây dao rựa cũ đi vào rừng. Tôi chợt nhớ đến những người anh hùng thầm lặng trong những câu chuyện mà tôi đã được đọc, được nghe. Giờ đây họ đang ở trước mắt của tôi. Tiếc là, tôi không thể kiên quyết và dũng cảm như họ. Tôi chỉ là cô nhà văn rỗi rảnh và cố chấp chạy nhảy tìm nơi nguy hiểm để thỏa mãn tính cố chấp của mình.

– Chị đang cầu nguyện sao? – Tôi thấy chị chấp tay trước ngực, miệng khấn vái lí nhí những điều mà tôi không rõ được. Tôi bèn hỏi chị.

– Ừ, mỗi lần họ đi là tôi lại khấn.

Tôi chấp tay đứng bên cạnh chị, khấn mấy lời. Tôi hiểu họ. Nơi rừng núi hoang sơ này đầy rẫy những hiểm nguy, hơn nữa còn có bọn buôn lậu rình rập sớm tối, chiều hôm. Không biết bao nhiêu nguy hiểm, rủi ro sẽ xảy ra với họ nữa. Những lúc như thế này, chúng tôi lại tin vào những thế lực linh thiên. Họ có thể là thượng đế, là thần, là phật. Tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi tin họ sẽ bảo vệ những người anh hùng của chúng tôi.

Chị vẫn để bếp lửa sáng. Chị Liên vẫn chưa về. Có lẽ dưới làng có chuyện gì đó khiến chị ở lại. Tôi lấy mấy gói trà mang từ thành phố lên đưa cho chị. Chị cười cảm kích, liên tục cám ơn tôi. Chúng tôi nấu một ít nước, pha sẵn ấm trà nóng chờ hai người đàn ông về. Tầm mười phút sau, An tất tả chạy về. Cậu trai hốt hoảng, cả người run lên bần bật vì sợ hãi. Chị Hòa bắt lấy tay An, hỏi dồn:

– Ông Chiến đâu, sao lại có mình chú về. Ổng đâu, xảy ra chuyện gì rồi.

– Anh hai bắt được một thằng buôn ma túy đang trốn trong rừng biên giới. Anh ấy đang giữ nó lại, ảnh bảo em về gọi anh em tới.

– Để tôi gọi điện cho họ. – Tôi nói.

– Ở đây không có sóng điện thoại, để em chạy xuống làng, cũng không xa lắm đâu.

– Vậy được, cậu đi đi, tôi với chị Hòa tới chổ anh Chiến xem sao.

An mô tả đường đi cho chúng tôi một cách ngắn gọn. Trong một lúc, tôi không thể nào hình dung được. Nhưng chị Hòa đã nhanh chân chạy đi. An đưa cho tôi con dao của em, nói tôi cẩn thận rồi chạy vụ đi theo lối mòn mà xuống làng.

Tôi cầm đèn pin chạy theo bóng chị Hòa. Trước mắt tôi, anh Chiến đang giữ chặt một tên con trai người đầy bùn đất, tóc nhuộm vàng chóe và dài đến khuất cả mắt. Hắn mặt một chiếc áo sơ mi hoa hòe bó sát người (lúc này đã lấm lem, dơ bẩn). Hai mắt hắn đỏ ngầu trong rất đáng sợ. Tôi mặc kệ cả cơn đau từ cổ chân mà chạy đến cùng họ. Tôi chẳng hề để ý gì ngoài tên đàn ông dị hợm dưới đất cho đến khi chị Hòa hét lên một cách đau đớn. Cái áo thun màu xanh quân đội của anh Chiến rách bươm và dính đầy máu. Tay anh đã bị chém một đường dài, nhưng anh không buôn tên đó ra mà vẫn giữ hắn chặt cứng.

– Kệ đi, tôi không sao đâu. Bà coi thằng An quay lại chưa.

Chị Hòa chạy ra xa nhìn nhìn rồi quay lại đáp lời anh bằng một cái lắc đầu. Tôi ngẩn ngơ nhìn họ. Thằng nhóc dưới đất rên hừ hừ, miệng lầm bầm chửi rủa. Anh Chiến dường như chẳng còn nhiều sức mà giữ nó nữa. Vết thương của anh sâu và rỉ ra nhiều máu. Tôi ngậm đèn pin trên miệng giống như anh hôm đó, rồi cắt cái áo sơ mi đang mặc để chị Hòa băng vết thương anh lại. Ít ra, nó giúp anh cầm được chút máu và đỡ thấy đau rát hơn trong sương đêm.

Họ đến, mang theo cả dây thừng. Mấy anh chàng trói chặt gã buông lậu lại rồi dẫn đi. Anh Chiến có vẻ mệt và đau nhưng anh chẳng hề than thở chút nào. Đột nhiên tôi xúc động, tôi khóc trước họ mà chẳng hề kiềm chế. Thú thật, trước nay tôi chưa từng bật khóc vì một người xa lạ. Nhưng hôm nay, trong cánh rừng này, tôi đã làm điều ấy.

Họ đều xuống thị trấn, cả anh Chiến. Trên trạm chỉ còn có tôi và An ở lại, tối đó, mẹ của An cũng ở dưới làng lên trạm.

– Chào cô, ôi hóa ra là cô giáo.

Lúc mới đến nơi này, tôi từng gặp cô, Cô là cô giáo dạy các em ở làng. Hóa ra An là con trai của cô. Đôi lúc tôi cảm thấy cuộc gặp gỡ giữa những con người thật kỳ diệu. Nó có thể mang đến cho bạn bất hạnh, đau khổ nhưng cũng đem đến niềm vui và nhân ái.

Cô kể, hồi trước cô là một cô gái Kinh, quê cô ở tận miệt Cà Mau. Tôi nghe mà ngạc nhiên. Có thể nói quê hương của cô và nơi chúng tôi đứng hiện tại là hai đầu của Tổ quốc, cô vẫn nói giọng nam. Nghe hay ho và ngọt ngào biết bao. Cô là một cô gái trẻ, có học thức. Đến năm cô 17 tuổi, gia đình cô làm ăn lụng bại nên cô bị ép gã cho một gã đàn ông Trung Quốc hơn 60 tuổi. Chúng đi vòng đi vèo đưa cô qua Tàu bằng đường biên giới. Cũng chính ở khu rừng này, cô đã gặp những người của làng. Họ đã cứu giúp cô và cho cô một cuộc sống mới. Sau đó cô lấy chồng là một người Mông và sinh ra An. Sau này, cô nhận dạy tiếng Kinh cho những đứa trẻ dân tộc. Cô nói mình may mắn vì được họ cứu thoát. Đã mấy chục năm cô không về lại Cà Mau vì sợ tủi, sợ nhục.

– Vậy anh Chiến không phải là thế hệ tình nguyện đầu tiên hả cô?

– Không, trước còn có nhiều người. Nhưng họ không gắn bó lâu như chú Chiến, chị Hòa. Bởi vì thiếu cái ăn, cái mặc mà họ không thể kiên trì giữ rừng nữa.

Tôi thấy lòng mình chùng xuống sau những câu chuyện của cô. Ít ra, họ cũng là anh hùng. Mỗi một người đều có một câu chuyện, câu chuyện của họ khác biệt và nhiều sắc màu biết bao. Giá như tôi có thể đem nó đến với những con người chỉ biết tiền và lợi ích. Để họ biết rằng ở trên thế gian này vẫn còn cả một khối người sống đơn sơ, đạm bạc, nhưng họ vẫn yêu và muốn sống như thế cả đời. Họ là sự kỳ diệu trong tôi. Trước họ, trước núi rừng linh thiêng tôi cảm thấy mình nhỏ bé biết bao nhiêu.

Hôm sau, họ trở về. vết thương của anh Chiến đã đỡ hơn, nhưng tôi biết nó vẫn còn đau lắm. Mấy đêm liền anh em trong đội kiểm lâm lên trạm ngủ với chúng tôi. Họ đi tuần hằng đêm và nghiêm ngặt hơn. An nói tên hôm nọ có mang ma túy và hắn có một tên đồng bọn. Mọi người sợ tên đó sẽ quay lại trả thù nên sau khi đưa gã buôn lậu xuống thị trấn, họ đã trở lại cùng hai anh đặc vụ.

Tôi biết họ căn thẳng, nhưng tôi chẳng làm được gì. Trong những buổi quây quần, tôi kể họ nghe về những câu chuyện mà tôi đã từng được chứng kiến còn cả những nơi mà tôi đã đi qua. Họ trầm trồ khen ngợi, cười cười nói nói. Nhưng tôi biết lòng họ đang rất rối.

Một buổi chiều nọ, tôi lấy mấy cuốn sách tặng cho An. Tôi nghĩ cậu ấy sẽ thích. Cậu ấy đỏ mặt nói cảm ơn tôi. Vào mỗi buổi chiều, cậu ấy thường hay hỏi tôi về thành phố. Có lần An hỏi:

– Thành phố đẹp như thế, sao chị không ở lại mà chạy tới đây?

– Cậu cho rằng thành phố rất đẹp sao?

– Ừ, em thấy trong hình như thế. Ước gì em có thể ở đó, như vậy tốt biết bao.

Tôi nhìn An, mắt  cậu lấp lánh mơ ước. Nhưng nó lại nhanh chóng chùng xuống, cậu nói với tôi: “Em đi rồi thì ai ở lại với rừng.”

Tôi cười xòa: “Thành phố đẹp nhưng không tốt bằng nơi này đâu. Đó là nơi không dễ dàng để sống, người ta lừa lọc nhau, đổi chác với nhau. Đó là nơi đáng sợ lắm.”

– Thật thế sao?

– Ừ, đúng là thế.

Đột nhiên tôi nghe tiếng hét của chị Liên. Tôi cùng An vội vã chạy xuống sau nhà. Đêm tối cô quạnh, chỉ có anh đèn dầu loe lói trong căn trạm gác tồi tàn. Mấy người nhốn nhau chen xuống nhìn thứ làm cho chị Liên hoảng hốt. Tôi soi đèn pin thì phát hiện đó là một cô gái.

An xốc cô gái bế lên trạm, cô bé tầm 15, 16 tuổi. Người chi chít vết bầm tím. Đôi giày vải cô bé mang dưới chân rách bươm, cả cái váy dài cũng rách rưới và dơ bẩn. Dường như khó có thể đoán nó đã từng có màu gì. Tôi chuẩn bị một ít nước nóng để lau người cho con bé rồi giục chị nấu ít cháo trắng. Con bé đã phát sốt và dường như nó đã không còn ổn nữa. Tôi sợ hãi, sợ cái chết sẽ đến với nó. Tôi liền giục An cõng nó đi xuống thị trấn trong đêm khuya.

Giữa rừng, tiếng suối róc rách chảy vang vọng. Gió đẩy mấy nhành cây xào xạc. Tiếng ai đó thở hồng hộc trong đêm, tiếng bước chân ai đó vội vã đập lên mặt đất từng hồi, từng hồi như tiếng trống ngực.

Và cả những tiếng nỉ non kêu cứu từ tận đáy lòng của cô gái trẻ dường như diễn ra trong đầu tôi rõ ràng như thể tôi đang chứng kiến. Tôi đột nhiên nhớ đến mẹ của An… Người đàn bà đi lấy chồng ngoại và cô gái trước trạm gác hôm ấy đã không may mắn như bà. Có lẽ… cô ấy đã không qua khỏi. Nhưng ít ra cô ấy đã về đến quê hương, thoát khỏi cái nanh kinh tởm của lũ buôn người. Và những người gác rừng của chúng tôi vẫn đứng đây bảo về rừng già và cứu giúp những con người bi kịch…

Anh Thư

thutop…@gmail.com

MS52 – Đêm gác rừng
4.2 (84%) 5 đánh giá

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here