Khi gót giày đã mỏi

***

“Ngày mưa ngâu tháng 6 năm 2018

Gửi Việt Nam những năm tôi và em có nhau,             

Cơn mưa chiều tháng 6 cứ dội vào lòng tôi những kí ức nhạt nhòa,loang lỗ về những ngày tôi có em.

Tôi có em khi chúng ta chỉ là những cô cậu nhóc nghịch ngợm trên ruộng đồng đất Việt. Em còn nhớ hay đã quên sau những cơn mưa ngập ruộng, em bỏ quên sách vở, kéo tay tôi ra đồng bắt ốc. Em vô tư san sẻ cho tôi thớ ốc mà nghĩ rằng mình bắt được, nhưng em nào biết tôi đã lén bỏ vào giỏ của em từ trước. Em còn nhớ hay đã quên những hoàng hôn rực lửa, san sẻ góc trời cho những cánh diều mà tôi, em và bọn thằng Thanh đẫm mồ hôi để thả lên. Và em ơi, cứ vào độ tháng này, Việt Nam lại ngát hương sen, khiến tôi mê mãi nhớ về nụ cười rạng rỡ năm đó của chúng ta khi chèo thuyền giữa cánh đồng bạt ngàn liên sắc . Mùi hương thanh tao ấy bao lần rủ tôi về những ngày còn có nhau, chẳng thể khước từ.

Và em, có thể giờ đây em đang diện  cho mình những bộ cánh lộng lẫy, đậm nét cổ điển hay thời thượng của trời Âu. Nhưng khi hướng về đất Việt, hình ảnh cô gái thuở mười sáu, tóc thắt bím ngày nào trong bộ áo dài đã ngã màu theo tháng năm cứ hiện lên, rõ mồn một trước mắt kẻ si tình như tôi. Em của tôi, có bao giờ em nhận ra mình đã đánh rơi ước mơ của chúng ta năm đó về những chuyến đi. Rằng ta đã mơ về những vùng đất trù phú mà tôi và em là hai kẻ bộ hành. Ta mơ để rồi năm đó, thật ngây ngô khi hai đứa quyết định thực hiện bằng “cuộc du hành” xuyên qua cánh đồng phía sau nhà. Ta mang theo sự háo hức, hăm hở khi muốn khám phá cuộc sống con người ở làng đối diện, cách ta vỏn vẹn chỉ một đồng lúa chín. Em có còn giữ ước mơ đó,ước mơ in dấu chân mình lên những mảnh đất mới lạ, như chúng ta đã từng?

Vì em biết không, tôi chưa bao giờ xem đó là mơ ước của hai đứa trẻ.Tôi đã trưởng thành theo mỗi chuyến đi xa.Và dù gót giày chưa mỏi trên các nẻo đường nhưng lắm khi tôi mỏi lòng khi nhớ về Việt Nam. Vậy còn em? Có bao giờ, như tôi?”[…]

Trong vô ý, vô thức, nước mắt cô chảy thành vệt dài, ướt đẫm đôi gò má ửng hồng, trên khuôn mặt cách đây vài phút còn rạng rỡ vì son phấn. Không bởi vì những câu từ trong nội dung lá thư mà vì những dòng rất thơ ở phần tái bút:

“Có một dĩ vãng, tôi-bạn có nhau

Có một mưa mau, phố khuya đẫm ướt

Có tiếng chân bước, xa cách lòng tôi

Bạn đã đi rồi, phố nay đã cũ

Nhưng dù mưa lũ, chợt nhớ đến nhau?

Quên hết thương đau, trở về nơi ấy.

Để thấy nhớ nhau…

-Từ Việt Nam-“

Như vỡ lẽ, cô bồi hồi nhớ về niềm sung sướng, rạo rực của mình ngày ở phi trường, tay nắm chặt va li hành lý như thể đã chắc chắn tương lai của mình.Từ ngày đó đến nay xa cách đã hơn mười năm, hôm ấy nắng dệt vàng hàng cây dương liễu, reo vui như chính lòng cô khi hay tin mình đã nhận được suất học bổng toàn phần, mang cô gái mười tám tuổi- Hoài Thương đến với Thụy Sĩ. Đương lúc cô ôm lấy người dì bảo bọc mình từ khi là đứa trẻ mồ côi trong giờ phút chia tay, ánh mắt Thương vô tình chạm ánh nhìn khắc khoải của Đăng.Cậu đứng từ xa, chìm trong biển người dõi theo Thương tự lúc nào.

Rời vòng tay dì, Thương vội chạy đến bên người bạn tri âm tri kỉ của mình từ khi hai đứa nheo nhóc lên năm:

– Mình tưởng Đăng không đến được chứ?- Thương vui mừng nắm lấy tay Đăng.

Chẳng có ý định nói cho Thương nghe về lý do đến trễ của mình,

Đăng chỉ dịu giọng:” Phải đến chứ, nếu không đến biết bao giờ có dịp gặp lại nhau!”

Ánh mắt u buồn của Hải Đăng làm Thương cảm giác như thể sự háo hức, mong chờ về tương lai của mình đang bị bẻ gãy, vụn vỡ.Tuy vậy,Thương vẫn ủi an Đăng như thể nhắc nhở mình:

– Đăng cười lên chứ! Rồi chúng ta sẽ gặp lại nhau, nhé!

Dẫu trong thâm tâm, Thương biết sẽ chẳng có ngày gặp lại. Bởi việc du học này không chỉ là mơ ước để được chạm tay đến thế giới khác- một thế giới không còn phải lệ thuộc, nô dịch cho cái nghèo. Mà đó còn là miền đất mới cho Thương chạy trốn khỏi sự miệt thị, cay nghiệt khi đứa bé gái năm nào chỉ vừa lên tám đã là nạn nhân của bạo lực gia đình mà chính người dượng say xỉn, bê tha của mình gây ra trong những ngày vắng dì. Chưa bao giờ Thương kể lể hay buộc tội. Bởi làm sao có thể đối với một đứa trẻ đang phải nương nhờ từng bát cơm, chén nước của dì dượng?

Ngoài kia, hàng dương liễu buông xuống, có lẽ vì nắng đã  tắt nên chúng cũng chẳng buồn reo vui.Trầm mặc, ưu tư như chính lòng cô nghĩ về tháng năm mình đã phải nén nước mắt, tủi hổ vào tận đáy lòng, tháng năm mình đã phải lao vào việc học như một con thiêu thân. Chỉ để có ngày hôm nay.Và dẫu lúc này đã sang cái tuổi mười tám, nhưng cô không có ý định nói ra hay trách cứ về những thương tổn mà mình phải chịu.Không bởi vì yếu đuối, sợ hãi mà đối với Thương , những vết bầm trên người cô năm đó chính là cơn gió thổi bùng ngọn lửa trong cô về sự quyết tâm thoát khỏi đau đớn. Không có vết thương, không có Hoài Thương của hôm nay.

Dù thương dì, thương người bạn đồng hành cùng mình qua bao tháng ngày thơ ấu, nhưng Thương vẫn luôn quan niệm: Có những bí mật trong chính cuộc sống mỗi người nên để nó đơn thuần là bí mật, như chính cái tên của nó. Sẽ chẳng ai có thể thấu hiểu đến hang cùng ngõ hẽm lòng mình và chẳng ai có thể gánh thay ngoài chính bản thân mình.

Với Hải Đăng, Cô có thể thở than về mệt mỏi hằng ngày, về nỗi nhớ  mẹ cha đến quặng lòng, duy chỉ nổi ám ảnh về nghèo khó, nổi đau đớn về thể xác và tâm hồn, Thương chọn cách im lặng. Không vì cậu không đủ là thành trì chỗ dựa tinh thần cho Thương, mà cô luôn muốn trong mắt người bạn đồng hành của mình, cô đang sống một cuộc sống bình yên, ít nhất cuộc sống đó là mảnh vải nhỏ chắp vá cho nỗi bất hạnh khi thiếu mẹ, vắng cha.Cô không muốn mình trở nên khốn khổ đến tội nghiệp như vậy, không muốn mình nhỏ bé đến thế dù đối với một trái tim dễ tan vỡ như Thương, sự bảo bọc hay thậm chí chỉ là thứ đồng cảm đơn thuần giữa người với người luôn là những thứ cô cần.

Mãi để cảm xúc dẫn dắt, cô không biết mình đang thất thần trước Đăng. Cho đến khi cậu dúi vào tay cô một mảnh giấy và dặn dò:

– Việt Nam sẽ nhớ cậu lắm! – Họ tặng nhau một nụ cười trước khi máy bay mang Thương đến Thụy Sĩ xa xăm.

Và đến tận bây giờ, khi đã ngã mình sang cái tuổi hai mươi chín, đã là một Blogger du lịch có sức ảnh hưởng, cô vẫn chưa bao giờ nhen nhóm ý định trở lại Việt Nam.

Loading...

Cho đến ngày hôm nay, đứng trước lá thư được lồng kính ở góc gian ảnh, thư từ của ngày hội “Có một thời như thế” do sinh viên Văn học Việt Nam và Nhật Bản tổ chức tại thủ đô Tokyo. Thương đọc từng dòng chữ cuối cùng,chậm rãi, ngập ngừng rồi ngắt quãng dù đó là những con chữ Thương đã nằm lòng. Cô cảm nhận được vị mặn của nước mắt khi vương lại, bồi hồi trên môi mình: ”Là cậu…”- Cô bật thành lời và mơ hồ nhận ra đó là những câu thơ Đăng đã viết vào mảnh giấy cho mình ngày trước.

Không họ tên, không địa chỉ nhưng chính những dòng thơ ấy đã nhắc Thương về cậu bạn thời niên thiếu của mình. Cô chợt tái mặt khi nhận ra, đằng sau nỗi nhớ thương về Đăng là một sự thật cô phải đối diện,rằng cô đã bỏ rơi đất mẹ hơn mười năm trời- nơi bồi đắp cho cô cả một bãi bồi tuổi thơ. Lá thư cho cô cảm giác nghẹn lòng đến tê tái. Như thể cô vẫn biết sự hiện diện của đất nước hình chữ S trên bản đồ, nhưng chưa bao giờ nó hiện hữu trong trí óc người con gái gốc Việt như Thương.

Ngược biển người cũng đang loay hoay tìm về chút kí ức rơi vãi đằng sau, Thương rời phòng trưng bày trong cái lạnh lẽo của Tokyo. May rằng chưa vào xuân, chứ nếu anh đào rơi rụng khắp nẻo đường mà lòng người lúc này đang hỗn độn, tơ vò thì thật tiếc cho Nhật Bản khi đánh mất một vị khách say đắm với cảnh đẹp như Thương. Bởi cô chưa từng bỏ qua lễ hội hoa anh đào của Nhật trong ba năm trở lại đây. Chưa từng lỡ hẹn với vẻ đẹp thôn dã của ngôi làng Gimmelwald, Thụy Sĩ- đất nước cô sinh sống, học tập và trầy da tróc vảy để lao động, bươn chãi cho việc học. Cô chưa từng quên khoảnh khắc mình nắm trong tay cơ hội việc làm cho công ty du lịch ở Bern. Mở ra cho cô những chuyến đi giờ đây đã bước ra ngoài hiện thực, không còn day dẵng trong giấc mơ.

Cô đã từng thu trọn lâu đài Oberhofen bên hồ Thun trong lòng mắt. Đã từng thức dậy ở Cappadocia- vùng đất hùng vĩ của những thung lũng, cao nguyên miền Trung Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Cappadocia trong Thương còn là nơi hàng nghìn kinh khí cầu khổng lồ treo lơ lửng giữa đường chân trời sáng chói. Nơi đó cô đã phiêu diêu đắm mình trong bộ váy họa tiết mang đậm dấu ấn Boho,“phong cách du mục”- Chỉ những người thích rong ruổi, lang bạt khắp trời Âu. Không ràng buộc mà tự do, phóng khoáng. Đã từng như thế, đã từng phiêu bạt khắp chốn mỹ miều, xa hoa. Đã từng thưởng thức hết thảy văn hóa ẩm thực của nhiều nước.

Nhưng…:”Sao tôi lại quên Việt Nam? Mình có mất trí nhớ bao giờ? Sao tôi có thể… Không! Tôi chưa quên! Tôi chưa quên Đăng, chưa quên những năm tháng nghèo khó cùng vô số kí ức ở làng. Tôi không quên trò rồng rắn trong buổi mưa năm nào, không quên những chiều lấm lem đất cát vì bắn bi, thảy đá. Tôi không quên món canh chua, cá kho hằng ngày cứ lặp đi lặp lại trong mỗi buổi ăn cùng dì. Sao…tôi thèm quê nhà quá!”- Thương lặng đi, ngộp ngạt với hàng tá suy nghĩ cứ nối đuôi nhau trong tâm tưởng. Cô không còn biết sự hiện diện của mình khi đứng giữa phố xá thênh thang, đứng giữa giờ tan tầm,đứng giữa cái xa hoa, lung linh của ánh đèn thắp sáng dãy phố.Nhưng cô biết rõ mình đang đứng giữa cái ranh giới vô định, vô hình của quá khứ và hiện tại.

Trở về khách sạn, những suy nghĩ về đất nước, con người Việt Nam cứ đuổi theo Thương như thể chúng đang lũ lượt đứng lên sau một thời gian dài cứ nằm im đó, bất động. Dựa vào cửa kính từ phòng khách sạn hướng xuống phố thị, cô khẽ mĩm cười như thể vừa khám phá ra được một vùng đất nào đó. Thân quen có, xa lạ cũng nhiều. Vẻ đẹp phố thị dưới kia có lung linh thế nào, níu kéo ra sao cũng không thể gây sự chú ý cho Thương. Khi giờ đây trong cô chỉ còn lại Việt Nam. Cô đứng đó, để mặc những suy nghĩ đan cài:” Đã biết nhớ Việt Nam rồi sao? Lá thư của Đăng có sức mạnh khủng khiếp đến thế sao? Việt Nam giờ ra sao rồi? Dì và Hải Đăng như thế nào? Làng nhỏ còn nguyên vẹn đó chứ? Mình can đảm hay hèn nhát đây khi đã chạy trốn cái quá khứ nghèo, khổ, đau đó. Nhớ đến Việt Nam, lạ quá! Cơn đói bụng ngày dì đi vắng sao không còn âm ỉ trong mình nữa. Cảm giác đau rát sau trận đòn vô lý của dượng cũng không còn khiến mình run lên vì sợ hãi hay hận thù như những ngày đầu sang Thụy Sĩ. Chẳng phải ở Thụy Sĩ, mình đã có cơ hội lớn nhưng cũng đã phải trải qua ngần bốn năm khổ sở, vật vã khi phải tự thân vận động hay sao? Vậy tại sao mình có thể yêu Thụy Sĩ đến thế, còn Việt Nam đắng cay có, hạnh phúc cũng rất thật. Như nhau cả mà? Huống chi đó là đất mẹ, sao mình nỡ không yêu?”

Một lần nữa, Thương vỡ lẽ. Chỉ có điều hơi muộn. Chắc vì bầu trời tuổi thơ u ám quá, nên khi bắt được một con đom đóm, thắp lên một xíu hy vọng, con người của tuổi trẻ xem đó như lẽ sống. Và cứ mãi chạy theo những hào nhoáng, sáng sủa, để rồi khi ngoảnh đầu nhìn lại mới chợt nhận ra đó chỉ là những nỗi đau tạm thời, bầu trời ngày còn tăm tối giờ đã nhường chỗ cho một ngày mới đầy nắng ấm dịu dàng, nhưng tiếc là ta chạy quá xa để có thể quay lại.Có lẽ vì cái chốn phồn hoa, luôn không sợ màn đêm khi được thắp sáng bởi những ngọn đèn xanh đỏ khác quá so với cái tịch mịch, tối tăm của làng nhỏ nên khiến Thương quên mất rằng một nơi nào đó dù gieo cho mình bất hạnh, cay đắng như thế nào thì đó cũng không nên là lý do để mình thù ghét. Đơn giản vì đó là quê nhà! Đó là Việt Nam! Đó là nơi dệt lên cho cô những kí ức vô giá, là nơi cô có Hải Đăng- điều quý giá trong những điều vô giá. Tuy có đau thương, có mất mát nhưng cũng là nơi nuôi dưỡng động lực cho cô để đứng lên và khởi đầu.

Cô lại rơi nước mắt, từ sau khi chối từ vòng tay đất mẹ, chưa bao giờ trong cùng một ngày mà nước mắt lại tìm đến cô nhiều như thế. Cô hiểu: cuối cùng thì mình chỉ là vị khách của đất nước Thụy Sĩ, chỉ là nơi trú ẩn dài hạn cho khổ đau thôi tìm đến.

Và dài hạn cũng chỉ là dài hạn, đâu là mãi mãi? Nơi này vốn định không phải của cô. Thương chợt nhớ đến mẹ, nhớ đến tình thương của dì. Họ đó gắn bó cả cuộc đời cho quê hương, họ chưa từng chọn cách chạy trốn hay chán ghét nơi mình sinh ra và lớn lên. Cớ sao cô lại như vậy? Mặc dù cô không muốn trở về Việt Nam khi chân đã mỏi, lòng đã mệt nhoài. Không muốn biến Việt Nam thành Thụy Sĩ thứ hai cho việc tìm đến- trú ẩn rồi lại rời đi. Nhưng “phải về thôi!”- ánh mắt cô lấp lánh, niềm tin trong cô lại trỗi dậy.

Bức thư của Đăng trong Thương chắc khác nào ngọn đèn hải đăng sáng giữa biển đêm, rọi vào những nơi u tối giá lạnh trong cô để rồi không phải lạc phương mất hướng mà trở về. Nhưng lúc này đây, khi cái tình quê da diết quá thì lý do để con người ta quay về đơn giản vì nơi đó là đất mẹ. Mà đã là đất mẹ thì chính là gia đình- con người ta đâu cần lý do gì khi muốn quay về nhà của mình, đúng không?

Yến Py

yenphithi…@gmail.com

MS272 – Khi gót giày đã mỏi
5 (100%) 1 đánh giá

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here