Cô bé chăn vịt Phù Dung

***

Một buổi chiều nọ, trời rét mướt, Phù Dung đang co ro chăn bầy vịt của ông bà chủ hội đồng khoảng 100 con trên cánh đồng cỏ xanh mượt. Cơn gió lạnh đầu mùa như cắt  da thịt cô bé. Cô bé thu tay vào ngực cho đỡ lạnh rồi tiếp tục lùa đàn vịt về nhà. Phù Dung vừa về đến thì nghe tiếng bà chủ quát tháo:

– Túi bạc của tôi hôm qua còn để ở trong tủ này, ông có lấy của tôi đem cho con nào thì bảo? Một trăm quan chứ ít gì?

– Cái bà này, bà để ở đâu thì còn ở đó, chứ tôi lấy của bà làm gì? Tôi đường đường là một ông chủ hội đồng không lẽ một túi bạc chỉ có một trăm quan mà tôi không có sao? Vả lại, chìa khóa tủ này tôi đã mất cách đây mấy hôm, tôi đã nói với bà mà bà quên rồi sao? – Ông hội đồng bực tức đáp lại.

– Ờ… ờ … mà  không lẽ con bé Phù Dung nó dám…–  Bà hội đồng giật mình.

Bà nói tôi mới nhớ, hôm qua tôi nghe con bé Phù Dung nó nói: “là mẹ nó bệnh ở dưới quê, không tiền thuốc thang”, chắc con bé Phù Dung nó lấy cắp rồi bà ạ! – Ông hội đồng vuốt chòm râu đen ngòm quả quyết.

Con bé Phù Dung này to gan thật, về đây chết với bà. Bà sẽ cho mày một trận  nhừ tử rồi bắt mày lên quan kinh lý đóng trăng. Bà hội đồng cau mày, nhảy đành đạch với lời lẽ đay nghiến.

– Giờ tôi đi ngủ đây, cả ngày đi đòi nợ tá điền mệt chết đi được. Con bé Phù Dung bà xử thế nào là tùy. – Ông chủ hội ngáp đáo, ngáp để.

Gió thổi ngoài trời làm đất hóa lạnh như những tấm băng. Bà chủ hội đồng đưa mắt qua trại nuôi vịt thì thấy Phù Dung ướt sũng cùng với bầy vịt ngổn ngang. Bà chủ chỉ tay quát liên hồi, giọng đanh đá:

– Con bé kia, mày chăn vịt của tao mà lộn xộn thế kia à, mất một con là bà cho mày ba roi, và không có đồng công nào trong ngày hôm nay, mày nghe rõ chưa hả?

Phù Dung đang co ro nghe thế hoảng hốt, bỏ chạy. Nhưng một tên gia nô đứng gần đó thân hình lực lưỡng vội rượt theo cô bé với dáng người gầy còm, đói rã, chân tay bủn rủn nên chẳng mấy chốc bị gã tóm gọn. Cô bé Phù Dung vội van xin tên gia nô:

– Xin chú An Phong tha cho cháu, bà chủ hội mà bắt được cháu, bà ấy sẽ giết chết cháu mất.

An Phong lưỡng lự, lắc đầu:

– Không được cô bé, ta mà tha cho cô bé, ông bà chủ hội sẽ lấy đất của ta mất, không cho ta thuê đất nữa thì vợ con của ta sẽ chết đói.

Nói rồi An Phong đưa cô bé về phía bà chủ hội. Bà chủ hội thấy Phù Dung như bắt được vàng vậy. Phù Dung cúi đầu chào bà hội. Bà hội không đáp lại mà còn vểnh mặt đanh đá, tay vung lên mặt Phù Dung. Tiếng vang “bốp… bốp…bốp…” ai ở đó nghe thấy cũng chạnh lòng.

– Lấy túi bạc của bà rồi định bỏ trốn hả con? Chạy nè, chạy nè. –Bà chủ hội túm lấy cổ áo của cô bé mà nhấc bổng lên khoảng không. 

– Dạ thưa bà hội, oan cho cháu lắm, cháu không biết túi bạc ở đâu, làm sao cháu có thể lấy được ạ?   – cô bé vội thanh minh.

– Oan nè, oan nè … chứ cái gì trên cổ mày thế kia hả, nó là chìa khóa của ông hội sao mà mày có? Khai mau! –Bà chủ hội tiếp tục đánh, vừa mắng Phù Dung một cách không thương tiếc.

– Dạ thưa bà, hôm nay cháu chăn đàn vịt, vô ý cháu nhặt được chìa khóa có sợi dây đeo cổ ở ngoài cánh đồng ạ! Cháu dự định lùa đàn vịt về trại, rồi cháu sẽ trình lên chiếc chìa khóa này cho ông bà hội, để tìm lại chủ nhân cho chiếc chìa khóa đã mất. Vì cháu chưa biết chìa khóa ông hội có hình dạng ra làm sao, nó tròn hay dẹp thế nào, và gian phòng của ông bà cháu nào dám lui tới khi chưa có lệnh của ông bà hội. Xin bà hội xem xét lại cho cháu. Nhà cháu tuy nghèo, đói rách nhưng đạo lý làm người:“Đói cho sạch, rách cho thơm” mà bố mẹ đã dạy cháu từ tấm bé, cháu  luôn khắc ghi trong lòng.

– Đã lấy cắp túi bạc của bà mà còn già mồm, mai bà cho mày lên quan kinh ký, xem mày chối cải thế nào. Quan kinh lý sẽ đóng trăng mày. Chờ đó.

Suốt đêm hôm ấy, Phù Dung không thể nào chợp mắt được. Cô bé nằm co ro trên một chiếc chiếu nhiều loang lổ, rách mướp trong một túp liều tồi tàn. Bên ngoài là hai tên gia nô được bà chủ hội giao cho nhiệm vụ là canh giữ cô bé. Bà hội có ý định sáng ngày mai, đưa Phù Dung lên quan kinh lý. Ngoài trời, gió bấc đầu mùa càng thổi lạnh, tiếng lá xào xạc đan xen vào nhau kêu cồm cộp, những giọt nước mắt của cô bé Phù Dung như chất chứa một nỗi niềm sâu lắng – đau đớn về một kiếp người lận đận.

Quan kinh lý xét xử vụ án này là Tuệ Nam, là một người chính trực, liêm khiết.

Ông đọc vào tờ đơn kiện của ông bà hội đồng. Quan kinh lý xem xong, vuốt nhẹ chòm râu rồi hỏi ông hội đồng:

– Ông hội thưa kiện cô bé này chuyện chi?

– Dạ thưa quan kinh lý, con bé Phù Dung nó lấy của nhà con 100 quan (tiền) ạ –Bà hội đồng nhanh nhảu thưa.

 Đây là chốn công môn, phải có khuôn phép, chứ đâu phải là cái chợ. Mà ta đâu có hỏi bà hội mà bà hội trả lời. Nếu bà hội còn tái phạm thì đừng trách bổn phủ. – Quan kinh lý nghiêm nghị quát.

 Dạ, con biết lỗi rồi, xin quan lớn bớt giận ạ! – bà hội thỏ thẻ, mắt không dám nhìn quan kinh lý.

 Thôi, bà đứng dậy đi. Bây giờ ông hội cho ta biết ông hội kiện cô bé Phù Dung này về chuyện gì? – quan kinh lý hỏi.

– Dạ con kiện cô bé này về tội ăn cắp 100 quan tiền của vợ con ạ! – Ông hội thưa.

 Sao ông hội biết cô bé  Phù Dung lấy túi bạc trong đó có 100 quan (tiền)?

– Dạ … dạ… dạ… bẩm quan … bẩm quan …– Ông hội không thể nói thành lời, nét mặt của ông hội xanh xao như lo sợ một điều gì.

– Sao ông hội ấp úng thế? – quan Kinh lý có vẻ nghi ngờ.

 Dạ… dạ,… dạ … bẩm quan kinh lý, con nghe vợ con kể ạ. Vả lại, hôm qua nó có đến mượn vợ chồng con 100 quan tiền để lo thang thuốc cho mẹ. Vợ chồng con không cho nó mượn nên nó mới  nảy sinh ý định lấy cắp túi tiền của vợ chồng con ạ.

Quan kinh lý nghe qua chưa vội kết luận về một điều gì. Ngài nhìn mắt qua bà hội rồi hỏi:

– Thế bà hội có tận tay mắt thấy cô bé này lấy túi bạc đó không?

 Dạ, bẩm quan kinh lý … con… con…con không… thấy….ạ!  Nhưng con thấy chiếc chìa khóa của nhà con lại nằm trên cổ của nó ạ. Thượng quan không tin có thể cho quân lính kiểm tra trên cổ của Phù Dung có chiếc chìa khóa tủ của ông hội nhà con . Chiếc chìa khóa này là bằng chứng, xin quan xử con bé Phù Dung này theo quân pháp.

Quan kinh lý nghe xong, ông trầm lặng một lúc rồi ông đi xuống chỗ cô bé Phù Dung đang quỳ. Quan kinh lý cho phép cô bé Phù Dung đứng dậy hầu chuyện.

 Này cháuÔng bà hội nói cháu lấy túi bạc của ông bà ấy. Mà cháu có lấy túi bạc của ông bà hội không?

 Dạ, thưa quan kinh lý, cháu không lấy ạ. Cháu xin quan lớn lấy lòng biển trời mà minh oan cho cháu.

 Cháu cũng vừa nghe ông bà hội cáo buộc tội lấy cắp chìa khóa tủ để trộm túi bạc rồi đó. Chiếc chìa khóa này là một trong những bằng chứng tố cáo cháu. Cháu hãy thành thật, khai báo. Nếu cháu có nửa lời gian dối thì tội của cháu sẽ tăng gấp đôi. Cháu có nghe rõ những lời ta nói không? – quan kinh lý khuyên nhủ cô bé.

 Dạ, thưa quan kinh lý, cháu biết chìa khóa này sẽ làm bằng chứng tố cáo cháu về tội lấy cắp túi bạc, nhưng thật tình cháu không có lấy cắp túi bạc của ông bà hội đồng ạ. Thực ra, lúc đầu cháu cũng có ý định đó, để lo tiền thang thuốc cho mẹ nhưng cháu nghĩ đến lời bố mẹ dạy sống phải thật thà, thẳng thắn, biết yêu thương, giúp đỡ mọi người ạ, nên cháu  từ bỏ ý định xấu xa đó. Cháu xin quan kinh lý xem xét cho cháu.

Quan kinh lý Tuệ Nam nghe lời kể tường tận của cô bé Phù Dung về chuyện túi bạc. Theo kinh nghiệm xử án của ông, ông nhìn ánh mắt, cử chỉ, hành động  của bị can, ông cũng đoán được người đó có phạm tội hay không. Trong vụ án này, ông luôn tin cô bé Phù Dung là vô tội. Sau một hồi suy xét, ông quay lại trên bàn xử án.

Các người trên công đường nghe ta phân xử:

– Ông hội chỉ nghe bà hội kể về chuyện túi bạc bị mất chứ chưa tận mắt thấy cô bé Phù Dung lấy cắp, nên ta chưa thể định tội cô bé lúc này được.

Nghe lời phân xử của quan kinh lý, ông hội có phần bất bình, ông hội chỉ tay vào cô bé Phù Dung đang quỳ gối trước công đường.

Con quả quyết là nó lấy ạ.

 –Bẩm quan, con cũng quả quyết như vậy, vì chiếc chìa khóa nó đeo trên cổ đã làm bằng chứng – bà hội tiếp lời.

Loading...

– Nếu cô bé Phù Dung này quả thật là phạm tội thì ông bà hội xử tội cô bé này ra sao?  – quan kinh lý muốn thử lòng ông bà hội.

– Dạ… con.. ..không.. dám ạ. Ông bà hội ấp úng trả lời.

– Ta cho phép, cứ nói.

– Đóng trăng nó đi quan kinh lý. – Bà hội nhanh nhảu thưa.

– Thế còn ông hội?

– Dạ, đóng trăng nó ạ, thưa quan kinh lý.

Quan kinh lý thấy cô bé Phù Dung không có một chút phản ứng gì về lời buộc tội của ông bà hội. Ông cũng ngạc nhiên nhìn sang cô bé, ông thấy trong ánh mắt Phù Dung như muốn nói lên là mình vô tội. Ông cũng đang tìm cách cứu cô bé Phù Dung, vì ông tin tưởng cô bé hoàn toàn trong sạch. Ông quay sang cô bé Phù Dung hỏi.

– Này cháu bé Phù Dung chăn vịt hãy nghe ta hỏi: “Cháu có nghe từ nảy đến giờ biết bao nhiêu lời buộc tội cháu đã lấy cắp túi bạc của ông bà hội, mà cháu không có một chút minh bạch gì cho cháu sao?

– Dạ, thưa quan kinh lý, giờ cháu có nói gì, chắc quan kinh lý, ông bà hội cũng không tin cháu, vì chiếc chìa khóa trên cổ cháu đã tố cáo cháu là một người phạm tội.

– Ta tin tưởng ở cháu. – quan kinh lý bước tới, vỗ vai vào cô bé Phù Dung.

Thấy thế bà hội vội thưa:

– Sao quan kinh lý lại tin cô bé Phù Dung này vô tội?

– Quan kinh lý có nhầm lẫn gì không ạ? Chiếc chìa khóa này đã lằm bằng chứng kết tội nó, sao quan kinh lý lại tin tưởng lời nói của con bé Phù Dung? . –Ông hội tiếp lời.

Ông bà hội không thấy mình quá vội vàng khi kết tội cô bé Phù Dung chăn vịt sao? Ta không phủ nhận là chiếc chìa khóa này là một trong những bằng chứng tố cáo cô bé. Nhưng nhìn trong ánh mắt cô bé Phù Dung dường như cô bé muốn nói với ta là cô bé vô tội trong chuyện này. Nói vậy, có thể ông bà hội sẽ không phục ta vì ta làm việc theo cảm tình. Nhưng ta thấy trong việc này có nhiều điều uẩn khúc.

– Con có thấy uẩn khúc gì đâu ạ? – Bà hội vội thưa.

Ông bà hội có thấy ai lấy cắp mà để lại vật chứng rành rành ở đó không? Cũng như cô bé Phù Dùng này, nếu quả thật cô bé làm việc đó, thì theo lẽ thường cô bé sẽ ném chìa khóa đi mất và bỏ trốn, chứ ai lại đeo vào cổ mà làm bằng chứng để buộc tội mình bao giờ? Đó không phải là điều vô lý sao, ông ba hội? Ta không vì những chi tiết là mẹ cô bé Phù Dung bị bệnh cần tiền thang thuốc hay chìa khóa đeo trên cổ mà phán cho cô bé có tội được mà ta phải xem xét sự tình ra sao mới phán quyết được – quan kinh nghiêm nghị nói.

Ông bà hội im lặng vì những lời lẽ thấu tình đạt lý của quan kinh lý. Quan kinh lý đang phân xử thì có người lính hầu vào báo cáo.

– Dạ thưa quan kinh lý, có một đứa bé chăn trâu muốn vào làm chứng cho cô bé Phù Dung ạ

– Được, cho cậu bé vào, ta có một vài điều hỏi cậu bé ấy .

Quan kinh lý nhìn cậu bé chăn trâu rồi hỏi:

– Cháu bé tên gì? Nhà cháu ở đâu? Vào đây có việc gì?

Dạ bẩm quan kinh lý tên của cháu là An Sơn, mọi người hay gọi cháu là “Sơn Trâu Đen” ạ! Cháu không có nhà cửa, cháu ở đợ cho ông bà hội đây. Cháu vào đây là để minh oan cho Phù Dung, bạn cháu.

– Cháu minh oan cho bạn Phù Dung nhưng cháu có chứng cớ gì minh chứng cho bạn ấy là vô tội không?

– Dạ thưa quan kinh lý, cháu có bằng chứng ạ. Trưa hôm qua, cháu đem thức ăn cho cậu chủ, cháu tình cờ thấy cậu chủ vào tủ lấy trộm túi bạc của ông bà hội.  Cậu chủ sợ cháu đi mét lại với ông bà hội nên cho cháu 10 quan tiền và bảo cháu giấu kín chuyện này ạ. – Cậu bé An Sơn kể lại sự tình cho quan kinh lý nghe.

– Này cháu, cháu không biết mình nói thật chuyện này, cháu không sợ bị ông bà hội đồng đánh đặp cháu, đuổi cháu đi? Và bản thân cháu cũng có phần lỗi là bao che cho cậu chủ chỉ vì 10 quan tiền? Quan kinh lý hỏi cậu bé.

– Dạ, thưa quan kinh lý, cháu biết những điều đó. Nhưng không vì thế mà cháu để bạn Phù Dung bị oan vì mình ạ! Quan kinh lý xử tội cháu thế nào cũng được, cháu mong quan kinh lý xem xét lại cho bạn Phù Dung của cháu. Bạn ấy, vô tội.

– Tốt lắm, cháu bé cứ yên tâm và tin tin tưởng ở ta. –Quan kinh lý xoa đầu cháu bé!

– Sao quan kinh lý lại tin tưởng vào một cậu bé chăn trâu ạ? Đó chỉ là lời nói phiến diện của một cậu bé chăn trâu hôi bùn, chân đất, không đáng tin. – bà hội vội ngắt lời quan kinh lý.

– Dạ cháu có một người làm chứng nữa ạ! Đó là chú Đình Trung, bạn của cậu chủ, gần xóm bên –Cậu bé An Sơn tiếp lời bà hội.

– Cho nhân chứng Đình Trung vào diện kiến quan kinh lý – lính hầu quan kinh lý dõng dạc ra khẩu lệnh.

– Người quỳ dưới công đường kia có phải là Đình Trung? Người muốn làm chứng cho ai và việc gì? – quan kinh lý nghiêm nghị hỏi.

– Dạ con tên là Đình Trung, con xin minh chứng là buổi chiều hôm đó, con và Thiên Bảo, con ông bà hội đồng cược chọi gà là 90 quan tiền. Con đã thua hết 90 quan ạ. Tối hôm đó, con của con bị sốt nặng mà trong túi con không còn một đồng xu, con đến vay tạm cậu chủ Thiên Bảo, nhưng cậu chủ xua đuổi, cũng may có cô bé Phù Dung và cậu bé An Sơn cho con mượn ít quan tiền lo thang thuốc cho con của con.

– Ngươi biết tội chọi gà, cũng bị xử tội không?

– Dạ con biết ạ, thưa quan kinh lý, nhưng con không thể để người ơn của con chịu tội oan ạ.

Quan kinh lý nghe đầu đuôi câu chuyện của nguyên đơn, bị đơn và hai nhân chứng. Ông vuốt nhẹ chòm râu rồi phân xử:

– Ta xử cô bé Phù Dung này vô tội. Riêng ông bà hội đồng chưa rõ sự tình mà làm nháo loạn công môn, và không suy xét sự tình mà quả quyết cô bé ấy là thủ phạm và có hành vi đánh cháu, nhục mạ cháu. Ta phạt hai vợ chồng ông bà hội, mỗi người là 50 đòn roi; cậu bé An Sơn ta phạt 2 roi, nhưng vì tình bạn với Phù Dung mà lên làm chứng để minh oan cho bạn, 2 roi ta có thể miễn trừ; Còn Đình Trung chơi chọi gà với Thiên Bảo, cược quan tiền là sai với luật pháp, ta phạt  mỗi người là 20  đòn roi và nộp phạt 40 quan tiền.

Rồi quan kinh lý quay sang cô bé Phù Dung với ánh mắt đầy thiện cảm.

– Cháu thấy ta  phân xử như vậy có công bằng không?

– Dạ thưa quan kinh lý, cháu không dám nhận định về điều đó. Cháu chỉ có một thỉnh cầu, mong quan kinh lý nhận lời thỉnh cầu của cháu.

– Cháu cứ nói, nếu điều đó không trái đạo, hợp tình người (thì) ta sẽ chấp nhận lời thỉnh cầu của cháu.

Dạ, thưa quan kinh lý, cháu biết ông bà chủ hội là một người tốt, chẳng qua ông bà chủ hội xót xa vì túi bạc 100 quan đã bị mất nên không kiềm chế được nên mới kiện cháu ra quan kinh lý, bắt cháu đóng trăng. Còn việc ông bà hội đánh cháu, có thể cháu làm sai việc gì đó, ông bà hội dạy khuyên bảo cháu nên mới làm vậy. Mong quan kinh lý tha cho ông bà hội  hình phạt đòn roi. Riêng chú Đình Trung, cháu biết chú ấy đã biết  hối cải,cháu xin quan kinh lý miễn trừ roi đòn cho chú ấy và cậu chủ Thiên Bảo. – Cô bé Phù Dung van lơn quan kinh lý xem xét sự tình.

Quan kinh lý kinh ngạc về tấm lòng nhân hậu của cô bé. Quan kinh lý nhìn cô bé Phù Dung, ôn tồn hỏi:

– Phù Dung cháu, sao cháu phải làm vậy?

– Dạ, thưa quan kinh lý, bố mẹ cháu dạy con người chúng ta phải sống phải biết yêu thương và tha thứ cho nhau.

Quan kinh lý sau một hồi phân giải, ông đưa ra phán quyết cuối cùng:

– Ông bà chủ hội có nghe không, một cô bé Phù Dung có tấm lòng nhân hậu. Cô bé Phù Dung nói phải lắm, con người chúng ta sống phải có tình nghĩa: “Tối lửa tắt đèn có nhau”, biết yêu thương, tha thứ cho nhau mọi lỗi lầm trong cuộc sống. Ta miễn trừ cho ông bà hội đòn roi, nhưng ông bà hãy dùng 100 quan tiền đề giúp đỡ cho những người nghèo khó thay thế cho 100 đòn roi, và cho cô bé Phù Dung ít bạc để có tiền thang thuốc cho mẹ ở quê nhà, ông bà hội có bằng lòng không?

– Dạ con bằng lòng ạ. – Hai ông bà hội đồng thanh đáp.

– Còn Đình Trung, Thiên Bảo, đòn roi ta có thể miễn nhưng phải nộp 60 quan tiền để giúp bà con, lối xom chung quanh mình.

Quan kinh lý ra hiệu cho vụ án kết thúc. Ánh mắt trìu mến và nụ cười nhẹ nhõm của quan kinh lý khi thấy cô bé  chăn vịt Phù Dung cùng ông bà hội đồng nắm tay nhau dìu ra về. Ông nhận ra một điều chỉ có tình yêu và tha thứ mới làm cho con người ta thay đổi diệu kỳ đến thế.

Nguyễn Quế Lam

nguyentamthanh…@gmail.com

MS109 – Cô bé chăn vịt Phù Dung
4.8 (96.67%) 48 đánh giá

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here